Nếu đương
đại (contemporary) chỉ đơn giản là những gì đang diễn ra, nghệ thuật
đương đại (contemporary arts) là những gì mà nghệ thuật đang phô diễn ở
khoảng thời gian hiện tại hoặc quá khứ gần thì có lẽ chẳng phải mất công
cho ra đời khái niệm Nhạc đương đại (Contemporary Music - với vô vàn
chi nhánh như Jazz đương đại, Cổ điển đương đại, Folk đương đại...) hay
Múa đương đại hoặc Hội hoạ đương đại... tất cả đều được viết hoa
như những danh từ riêng, những loại hình độc lập không chung chạ với
những gì "không đương đại". Vậy thực chất "Nhạc đương đại" khác gì với
những thứ "đương đại bình thường" khác?
Là một "lãnh thổ" rất khó tìm ra địa giới, Nhạc đương đại xoá nhoà ranh giới giữa Âm nhạc và Âm thanh, coi những âm thanh đời thường, bất chợt cũng là âm nhạc, là phương tiện sáng tạo. Hãy đọc tiếp một định nghĩa về Nhạc cổ điển đương đại thế kỷ 20: "Nhạc cổ điển thế kỷ 20 đưa chúng ta đi từ thời Lãng mạn đến những thử nghiệm kỹ thuật, từ những âm thanh tạo ra từ máy vi tính tới những âm thanh do đám đông khán giả cùng bao nhiêu người bình thường khác tạo ra hàng ngày khi thắt cravat hay đánh răng" (AMG Music Glossary).
Định nghĩa cho Nhạc đương đại.
Xin trích ra đây những lời giới thiệu sơ lược nhất về Nhạc đương đại của ISCM (The
International Society of Contemporary Music - tạm dịch là Hiệp hội Âm
nhạc Đương đại Quốc tế - được thành lập từ năm 1922 tại Salzburg - quê
hương Mozart): Vào buổi bình minh của thế kỷ
21, phạm vi các hình thức âm nhạc mà chúng ta từng biết, từng tiếp cận
đã trở nên rộng lớn hơn bao giờ hết nhờ những tiến bộ công nghệ vĩ đại
của thế kỷ 20. Như vậy, đưa ra một định nghĩa về "Âm nhạc đương đại" là
rất khó khăn, khi những nhạc sĩ sáng tác chịu ảnh hưởng của ngày càng
nhiều các loại hình âm thanh - âm nhạc và không phải âm nhạc. Các nghệ
sĩ biểu diễn giới thiệu âm nhạc đương đại đến công chúng bằng rất nhiều
hình thức. Đã đến lúc cần phải xác định lại mối quan hệ giữa người sáng
tác - người biểu diễn và người thưởng thức.
Đúng là rất khó khi đưa
ra một định nghĩa về nhạc đương đại, ngay cả những nghệ sĩ đang hàng
ngày sáng tác, biểu diễn cũng ấp úng khi được yêu cầu định nghĩa những
gì mình đang làm, họ chỉ biết làm những gì mà mình thích và cho là đương
đại thôi, tức là thực hành và không quan tâm đến lý thuyết! Và bản
thân các tác phẩm âm nhạc đương đại nếu chỉ nằm trên giấy theo những
hình thức lý âm thông thường thì cũng rất khó khiến người ta nhận ra
tính đương đại trong đó, nó chỉ thực sự là "đương đại" khi được vang lên
với những âm thanh.
Có thể hiểu đơn giản thế này: Nếu chỉ xét riêng bản thân từ đương đại - contemporary
thì không phải nói gì nhiều, sẽ là những gì đang diễn ra, đang xảy ra
theo đúng quy luật thời gian, những sáng tạo, cách tân nếu có cũng là
bình thường - nghệ thuật cũng phải tiến bộ cùng với cuộc sống! Nhưng khi
contemporary - đương đại trở thành một tính từ đi cùng
một loại hình nghệ thuật nào đó thì thể loại ấy đương nhiên đã được
khoanh lại, tồn tại một cách độc lập tương đối với những thể loại anh em
của nó, những gì "không đương đại"!
Và vì thế, Nhạc đương đại
cùng những thành tố của nó như Jazz đương đại, Folk đương đại, Cổ điển
đương đại, Opera đương đại, Techno đương đại... cùng những thứ âm nhạc
chỉ đương đại mới có như Computer music, có một vị trí riêng trong dòng
chảy âm nhạc bên cạnh những dòng nhạc theo truyền thống khác. Đương đại
được hiểu là những sáng tạo trước đó chưa có hoặc mới chỉ là mày mò và
hiện tại đã được hoàn chỉnh ở một mức có thể định danh. Giải Grammy vẫn
luôn có những giải dành cho các dòng nhạc đương đại và cả dòng nhạc
truyền thống như để tôn vinh cho những nỗ lực sáng tạo mới cũng như duy
trì những gì đã có.
Thế giới Nhạc đương đại
Là một "lãnh thổ" rất khó tìm ra địa giới, Nhạc đương đại xoá nhoà ranh giới giữa Âm nhạc và Âm thanh, coi những âm thanh đời thường, bất chợt cũng là âm nhạc, là phương tiện sáng tạo. Hãy đọc tiếp một định nghĩa về Nhạc cổ điển đương đại thế kỷ 20: "Nhạc cổ điển thế kỷ 20 đưa chúng ta đi từ thời Lãng mạn đến những thử nghiệm kỹ thuật, từ những âm thanh tạo ra từ máy vi tính tới những âm thanh do đám đông khán giả cùng bao nhiêu người bình thường khác tạo ra hàng ngày khi thắt cravat hay đánh răng" (AMG Music Glossary).
Theo quan niệm phổ biến
hiện nay trong giới làm nhạc đương đại, những dòng nhạc có tính đại
chúng lớn như pop-rock không phải là đối tượng để Nhạc đương đại ngó
ngàng đến. Họ quan tâm nhiều đến những thể loại đòi hỏi tính sáng tạo và
kỹ thuật sáng tác cao như cổ điển, jazz và các hình thức thử nghiệm
mới. Được nói đến nhiều nhất hiện nay là hình thức "sắp đặt âm thanh" -
sound installation. Âm nhạc không đi theo con đường truyền thống từ
những nốt nhạc trên giấy đến dàn nhạc nữa, mà được thể hiện bằng những mảng khối âm thanh đa dạng được xếp cạnh nhau, chồng lên nhau theo một ý tưởng nào đó của tác giả.
Cùng
với "sắp đặt âm thanh" là "trình diễn âm thanh" - sound performance,
hình thức mà theo quan niệm của các tác giả, ở đó, tác giả và những sản
phẩm âm thanh của mình có chung vị thế, có vai trò ngang nhau trong một
màn trình diễn. Tác giả tạo ra âm thanh trên "sân khấu", và những âm
thanh ấy trở thành các "nhân vật" trình diễn ý tưởng của tác giả theo
cách của chúng.
Nhạc
đương đại đi ngược lại xu hướng của nhạc đại chúng (là dễ nghe, dễ tiếp
nhận) và dường như "thách đố" cảm thụ truyền thống. Dù các nghệ sĩ Nhạc
đương đại không coi "khó nghe, khó tiếp nhận" là tiêu chuẩn sáng tạo của
họ nhưng do những gì họ làm ra thường quá lạ lẫm, quá mới mẻ nên công
chúng không dễ gì mà cảm được, kể cả những khán giả "đã được giáo
dục"(!).
Cũng vì những sự mập mờ
như vậy mà những nghệ sĩ nhạc đương đại dễ bị mang tiếng là mượn danh
đương đại để che giấu sự bất tài và biện minh cho những "sáng tạo" quái
đản, lập dị. Biên giới sáng tạo của người nghệ sĩ có thể là vô cùng
nhưng điều đó cũng dễ bị lạm dụng để trưng ra những sản phẩm không
ai cảm nhận nổi, khoác cái danh "sáng tạo"!
< Theo Nguyễn Minh, giaidieuxanh.vn >





